Skip to content Skip to footer

Sự kết nối giữa thiền Việt và thiền hiện đại trong thơ Trần Lê Khánh

Sự kết nối giữa thiền Việt và thiền hiện đại trong thơ Trần Lê Khánh

 

Cái nhìn khác về thiền trong thơ Trần Lê Khánh

Thơ Trần Lê Khánh đa dạng, nhưng sự đa dạng đó hình thành trên một nguồn ngội, đó là thiền. Thiền có nhiều định nghĩa. Theo nhiều tài liệu, thiền có trước công nguyên, trước cả sự ra đời của Phật Thích Ca Mâu Ni. Nếu đúng như vậy, thì thiền đã có mặt trên thế gian này hơn 2500 năm. Thiền không chỉ có trong Phật giáo, mà còn có mặt ở các tôn giáo khác. Trong Phật giáo, các đại sư nói rằng, thiền giúp chúng ta hướng vào tâm. Ở yoga, thiền giúp chúng ta trôi vào ý thức vũ trụ. Trong quan sát của khoa học, thiền giúp chúng ta chú tâm vào điều gì đó, cân bằng được suy nghĩ.

Thiền không chỉ xuất hiện trong các bài tập của các đại sư, mà còn xuất hiện nhiều trong thơ ca. Ở Việt Nam, thiền xuất hiện nhiều trong thơ Trần Nhân Tông và các vị sư sau này. Ở Nhật Bản, thiền xuất hiện trong những dòng thơ haiku. Thời nay, thiền cũng xuất hiện nhiều trong thơ Thích Nhất Hạnh.

Thiền trong thơ Trần Lê Khánh là một bước tiến đầy mới mẻ, thiền lúc này không chỉ ngồi im, bất động, mà dịch chuyển, qua lại giữa hư vô, thực tại, quá khứ, và tương lai. Trần Lê Khánh không để tâm trí mình chết lặng, mà anh quan sát vào nhiều sự vật, hiện tượng, miễn sao, tâm trí anh sáng và thấy được điều mà anh cho là tĩnh lặng.

Trần Lê Khánh thấy:

sông mênh mông

em đổ hết đêm vào

cạn đáy lọ

còn sót những vì sao

    (cổ hủ)

Từ sự thiền định của mình và bằng trí tưởng tượng phong phú, anh thấy em đang đổ đêm vào sông. Một hành động được cho là phi lý – Trần Lê Khánh rất giỏi trong việc chỉ ra được tính phi lý của đời sống – nhưng dưới mắt của nhà thơ, điều đó diễn ra tự nhiên, như người ta đổ cát xuống sông. Sự phi lý tiếp tục kéo dài ra, khi đêm được bắt nguồn từ chiếc lọ. Và rồi, khi đêm chảy hết, thì những vì sao đã mắc lại, không rơi xuống dòng sông. Có thể hiểu ý thơ này của Trần Lê Khánh theo con mắt của người mộng mơ và một nhà thiền học. Tâm anh tĩnh đến mức, thấy được sự giao hoà vào một của đêm, dòng sông, con người, và vì sao. Vì sao không trôi xuống dòng sông, như ý thức con người luôn được giữ lại. Như thân xác tuy đã mất đi, nhưng linh hồn, theo nhiều tôn giáo, là không hề tan biến.

Thiền trong thơ Trần Lê Khánh không vướng mắc vào sự mặc định của những điều cũ. Thiền của những cái nhìn cũ, là hướng con người đến cảnh, đến vật đã có sẵn, chính nó là như thế. Người quán sát dù quán sát mấy cũng không thể phát hiện gì thêm. Thiền trong thơ Trần Lê Khánh là thấy vật, thấy cảnh luôn biến đổi không ngừng, đó là cái nhìn mới, cái nhìn hiện đại của Trần Lê Khánh. Một cái nhìn khác. Đó là thiền trong công việc, trong mỗi bước đi, trong chiếc lá bay…Vì vậy, Trần Lê Khánh thấy:

chiếc lá vàng bay

một mình làm nên mùa thu

nó đâu biết rằng kiếp sau

hóa thành đàn chim én

    (kiếp nào hơn)

Chiếc lá vàng bay không chỉ là chiếc là vàng bay nữa. Nó không chỉ có ở thì hiện tại, mà còn hiện diện ở thì tương lai. Trong cách nghĩ của Trần Lê Khánh, ở đây có kiểu luân hồi, chuyển kiếp. Chiếc lá có công lớn trong việc tạo nên mùa thu đẹp từ kiếp trước, nên kiếp sau hoá thành chim én của mùa xuân. Một sự liên tưởng đầy bất ngờ và thú vị của thi nhân.

Từ quan sát theo kiểu thiền mới, Trần Lê Khánh thấy những điều mà không phải ai cũng thấy được.

em ngồi vun lại trời xanh

cụm mây đổ xuống tan tành lòng sông

        (định luật bảo toàn)

Trời xanh có thể là tuổi trẻ, là sắc đẹp. Em không thể giữ mãi. Lòng sông là cái cố định, tưởng rằng không ai có thể khuấy đảo được, nhưng rồi cũng không thể vẹn nguyên mãi. Trần Lê Khánh đã tiếp thu lại những tinh hoa thiền từ nhiều tôn giáo khác, chứ không riêng gì trong Phật giáo, nhưng rồi, lối viết của anh, lúc nào cũng thấy dấu chân Phật.

Ở sự đánh giá nào đó, ta thấy suy tư của Trần Lê Khánh có cái gì đó chung với Thiền sư Thích Nhất Hạnh, đó là nghĩ về phút giây hiện tại, lúc này, giờ đây. Và từ đó, anh quan sát thấy được nhiều thứ. Từ đó, ta thấy thơ anh đã vượt qua được những cảm xúc vui buồn, mà trình bày ra bản thể con người, tự nhiên như thế.

Trần Lê Khánh viết:

dần dần

sông cạn đến mức

con cá đớp được

đám mây khô

   (bối thuỷ)

Những câu thơ này như là sự dự cảm. Ở đoạn này, ta lại thấy anh có những dự đoán cho tương lai, như thể Nguyễn Bỉnh Khiêm, chẳng hạn. Anh thấy, một ngày nào đó, thế gian này, do sự biến đổi nào đó, sông cạn đi. Và dưới con mắt thi nhân, những đám mây in bóng xuống cũng không thể cách xa con cá được, nên cá dễ dàng đớp được đám mây đó. Và rồi, khi sông cạn đi, mây không được tắm táp, thì mây khô héo đi, như hoa trong mùa hạn hán. Như người không tìm được ánh sáng cuối đường hầm, bị sa trong vũng lầy.

Từ mạch tư duy đó, Trần Lê Khánh tiếp tục thấy được sự biến chuyển sau này của chú chim và chiếc lá vàng:

con chim đậu trên chiếc lá vàng

kiếp sau cả hai sẽ hoá người

thành đôi tình nhân mỏi bước

tìm về gốc cây cũ

chờ nhau

  (về)

Đến Trần Lê Khánh, ta thấy thơ không chỉ miêu tả chỉ để miêu tả, không chỉ có quan niệm sống. Mà nó chất chứa trong đó quan niệm về vũ trụ, về tâm linh. Anh không muốn dừng lại sự hiểu biết của mình ở màu cây, sắc lá, con người; mà xa hơn, đó là thấy được cả những kiếp sau của vạn vật. Trần Lê Khánh phải có tư duy táo bạo lắm mới viết được như thế.

Dường như, ta thấy anh mỗi lần hoàn tác một bài thơ, như thể anh vừa thực hiện xong một công án thiền. Như là vừa đi lấy nước trên suối về. Vừa nấu nồi cơm xong. Vừa pha xong một ấm trà công phu. Vừa đọc xong một bài chú. Có thể là mệt, nhưng sau đó, là tâm thanh tĩnh, nhẹ nhàng đến mức như mây trôi.

Từ cái nhìn đó, mà Trần Lê Khánh cho thấy được tấm lòng vị tha của mình.

thượng đế sao lại nổi giận

khi vườn bạt ngàn trái cấm tình yêu

  (sa mạc)

Trần Lê Khánh còn thấy được người đi tìm con đường tâm linh, nhưng tìm hoài mà chưa được.

lão tiều phu

chiều chiều

vung búa bổ vào bóng mình

đã tám vạn bốn ngàn lẻ tịch lần

bó chặt từng cái bóng

nhiều bó nặng

gánh về đâu

   (chẻ củi)

Trần Lê Khánh lấy hình ảnh lão tiều phu, nhưng tiều phu không bổ củi mà đi bổ vào bóng mình. Ý nói, là sự soi chiếu chính mình. Nhưng sự soi chiếu qua nhiều lần rồi, đến tám vạn bốn ngàn lần, nhưng vẫn chưa thấy. Có lẽ Trần Lê Khánh lấy ý từ tám vạn bốn ngàn pháp môn trong Phật giáo để tạo tác nên bài thơ này. Đó là có nhiều phương pháp, những hơn tám vạn phương pháp để cho loài người hướng đến sự giải thoát. Nhưng không phải ai cũng đến đích được, như lão tiều phu trong bài (chẻ củi) của Trần Lê Khánh.

Không chỉ luôn chú tâm vào điều xa xôi, và cái hư vô, ảo ảnh, Trần Lê Khánh cũng thường hướng tâm của mình vào điều mà con người luôn hướng đến, đó là quê hương.

con sông nằm xuống

để cơn mưa dài

tắm cho sạch

những ngọn sóng tha phương

  (quê hương)

Quê hương của Trần Lê Khánh lại rất lạ. Không phải là chùm khế ngọt, luỹ tre làng, là sự thương nhớ bóng dáng người xưa. Ở đây, ta vẫn thấy được chất thiền của Trần Lê Khánh, đó là sự tĩnh lặng quan sát. Anh thấy những con sóng tha hương cũng như những con người. Anh thấy, con sông nằm vĩnh hằng như vậy là để cho mưa tắm sạch, bởi những con sóng trôi ra, lan xa đã mang thêm rất nhiều tạp chất. Vì vậy, mưa đã gột rửa cho. Như con người được gột rửa hết bụi trần, đó là hết sầu khổ, đớn đau. Phải chăng, khi ta đi xa, ta vất vả mưu sinh, ta phải gánh gồng, đối mặt nhiều thứ. Nhưng khi về đến quê, tự nhiên, những điều đó tự nhiên được tẩy đi hết.

Ở một trạng thái khác, khi quan sát không gian, đó là viết về trăng, ta thấy Trần Lê Khánh viết cũng rất khác. Về trăng, ta thường hay nói đến Hàn Mặc Tử. Ông là người dám cả gan bán trăng. Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử cũng thanh thoát, nhưng thực ra, vẫn chưa cho thấy sự khác lạ so với những thi nhân trước hoặc cùng thời. Trăng trong thơ Trần Lê Khánh được diễn tiến khác hẳn. Rất khác. Khác hẳn những thi nhân trước và bây giờ.

mây

ủ trăng

chín dần

nghìn năm còn đắng

  (vị đêm)

Trăng được Trần Lê Khánh ví như một trái cây đã rời cành. Trăng vàng vàng lên là được mây ủ, như nhiều trái xanh, ta ủ trong gạo, trong rơm. Không những ủ trăng, Trần Lê Khánh còn biết vị trăng, đó là đắng. Bài thơ vừa cho thấy sức sáng tạo đáng nể, vừa cho thấy tâm thế của Trần Lê Khánh như thể đã vượt thoát được khỏi cõi Ta Bà này.

Trong thơ Trần Lê Khánh, ngoài những hư vô, những vật, những cảnh, anh còn viết về thượng đế. Thượng đế trong mắt Trần Lê Khánh cũng giống như thượng đế trong thơ Tago, đó là sự hoá thân của con người. Thượng đế và con người là một, như nhau, không có gì sai khác.

nụ hoa đẹp nhất thế gian

là nụ hoa chưa từng ai thấy

nghe kể rằng

thượng đế dùng để tặng tình nhân

  (lòng người)

Bài (lòng người) của Trần Lê Khánh có yếu tố hài hước. Nhưng không chỉ có vậy, bài thơ cho thấy sự đồng nhất của con người với thượng đế – được cho là sáng tạo ra vạn vật. Thượng đế chẳng khác, chẳng xa lạ gì với con người. Thượng đế cũng yêu, cũng ghét như chính chúng ta. Có người nói, dù ta có thế nào, thì ta đều do bàn tay thượng đế nhào nặn ra.

Trần Lê Khánh còn rất nhiều bài thơ như vậy. Anh phải có tâm tĩnh, tâm hồn phóng khoáng, sự liên tưởng tuyệt vời thì mới có thể dẫn dắt người đọc đến được những ý, những ảnh mới lạ. Đó là sự khác biệt của Trần Lê Khánh, là bước tiến xa trong thơ thiền mà không phải thi nhân nào cũng làm được.

Thơ thiền Trần Lê Khánh với tình yêu cuộc sống

Đọc thơ Trần Lê Khánh ta thấy nổi lên một giọng điệu thơ khác biệt:một hôm gió thổi/ chiếc lá lạnh sống lưng/ khi dưới đất lộ ra bộ xương hóa thạch/ của lối mòn triệu năm về trước/ em đã đi qua. Khác bởi cách sử dụng ngữ điệu, cách biểu đạt tâm lý, cách dẫn dắt người đọc nắm bắt dòng chảy thời gian, bắt mạch nhịp đập đời sống hằng xuyên liên tục dồi dào sức sống, sức sáng tạo. Một tác phẩm thơ hiện đại, không thể thoát ly tính triết học, mà bắt buộc tác giả phải sử dụng ngôn từ như thế nào đó cho thích hợp với cách thể hiện tình cảm, tâm lý con người đương đại có quan hệ tương tác. Quan hệ tương tác giữa con người với con người trong cùng một cộng đồng ngôn ngữ là thước đo, là “rào chắn khắt khe” nhất, khiến cho những thành tựu sáng tạo văn học nghệ thuật được định giá ở mức nào.

Trong nếp tư duy nghệ thuật xưa nay của các tác gia văn học phương Đông có một số tác giả thường lưu tâm đến cái tĩnh lặng, sự tự phát sáng của biểu tượng cuộc sống. Biểu tượng cuộc sống do tác giả tiếp xúc trực tiếp, quan sát thấy những khiếm khuyết còn chưa thỏa mãn, những hiểu biết còn đang đà hoàn thiện, những khám phá còn “chầm chậm theo mình”sẽ lần lượt hình thành nhân vật, sự kiện hư cấu lại hiện thực. Nhân vật, sự kiện cụ thể do cá nhân mỗi tác giả sử dụng ngôn từ sáng tạo, trong tác phẩm nghệ thuật nếu gây được ấn tượng mạnh, diễn biến tâm lý không phi lý, không sa đà lượm nhặt thô thiển, tự nó liên kết các thành tố hiện thực lành mạnh, cảm hóa đạo đức xã hội, đó chính là những thành tựu sáng tạo văn học nghệ thuật được ghi nhận. Thì từ trong sâu xa, thơ Trần Lê Khánh đã mang những dáng dấp đó và thể hiện nó trong một hình thức rất hiện đại:

mình có ngày gặp lại

em đi

dải cát mịn

lên da non

nơi trái đất tròn

Trần Lê Khánh đã từng xắn tay gom góp nguyên liệu, chọn lựa gia vị, say mê đốt lửa tâm hồn, tự nguyện làm tay đầu bếp nghệ thuật, tạo được những bữa tiệc tâm hồn mời bạn đọc gần xa tự tìm đến thưởng thức. Anh đặt tên cho những đứa con tinh thần là:Ngày như chiếc lá, Lục bát múa, Dòng sông không vội, Xứ – Rung một ngọn mây (2020) xem như tác giả thường tìm chỗ đứng hay ngồi tĩnh lặng ở một góc nào đó quan sát, miêu tả hiện thực chìm sâu trong đời sống tâm linh con người. Nhiều khi đi chán chê mê mải, từng trải gian lao khó nhọc mới tìm ra góc nhìn nghệ thuật. Không hẳn chỉ là đức Phật, nhưng có lần chính anh đã bộc lộ trong một dịp trả lời phỏng vấn báo chí: “Hình ảnh đức Phật là hình ảnh đẹp nhất mà tôi đã từng đọc được, từng thấy được và từng được nghe kể. Chính từ chiêm ngưỡng đó ra sự chiêm nghiệm và từ đó tôi đi vào con đường thiền. Nó là một cái gì đó yên lặng. Cái yên lặng tận cùng giúp mình cởi bỏ lớp đạo đức giả của mình ra, cái lớp thành kiến, sở tri kiến để chiêm nghiệm cái đẹp…”

Dù cho tác giả của mấy dòng tâm sự đã khẳng định“cái yên lặng tận cùng giúp mình cởi bỏ lớp đạo đức giả của mình ra, cái lớp thành kiến, sở tri kiến” chỉ là của riêng anh – là một cách nói khiêm nhường, nhưng người đọc nào đó vẫn có cớ để suy diễn rẳng, như vậy trong xã hội hiện đại khi xe hơi, máy lượn, tàu thủy nâng bước chân người, khi bàn phím máy tính, điện thoại thông minh đọc được cảm ứng sinh học, trợ lực cho sự phát sáng của ngôn ngữ tư duy, khi kinh tế văn hóa xã hội phát triển thì trong thế giới tâm linh của bất cứ ai cũng đều có “cái lớp đạo đức giả”, “cái lớp thành kiến, tri kiến” song hành tồn tại; sai khiến mọi hành động ứng xử trong quan hệ. Trong bối cảnh ấy thì người cầm bút nên làm gì? Trần Lê Khánh đã đến với phong cách thơ thiền định, thể hiện cách nhìn riêng của mình hiện đại hơn, sâu xa hơn.

Thơ thiền của Trần Lê Khánh đã phản ánh được nhiều nét bản chất sâu xa của những quan hệ tương tác trong xã hội đương đại của con người, trong mọi lĩnh vực xã hội và môi trường. Tàng ẩn trong các mối quan hệ ấylà hành xử của từng cá nhân conngười biểu hiện thái độ, biểu hiện trình độ nhận thức, cảm xúc chia sẻ, và phản ứng đồng tình hay trái ngược.Đối với những tâm hồn nghệ sĩ thì cảm thức thi ca nghệ thuật có cơ hội thâm nhập, phản ánh bằng tác phẩm. Từng đơn vị tác phẩm liên kếtvới nhau theo phong cách ngữ điệu của tác giả mà khắc họa giá trị tác phẩm, chân dung tác giả. Bài thơ Xứ 5trongXứ Rung một ngọn mây, Trần Lê Khánh viết:

em thương một chiếc lá vàng

rêm mình trong buổi chiều hoang cuối đường

này góc phố chuyện yêu đương

như hai ngọn gió mà mường tượng nhau

bàn tay vuốt nhẹ cơn đau

cho xuôi tiếng nấc nghẹn ngào vu vơ

em ngồi dựng lại ngày thơ

có vầng trăng nhỏ thích chờ hôm qua

cánh cửa nhỏ bên hiên nhà

mở chưa hết đã xa hoa cõi lòng

nấp vào trong nấp vào trong

Như vậy là tác giả đã thâu tóm mặt trái của câu chuyện và vẫn muốn nhân vật thơ cần giữ kín riêng cho mình và hướng sự nhận thức, nhắc nhở nếp sống tế nhị vốn có của người Việt.Về hình thức trình diễn nghệ thuật ngôn từ, tác giả đã chủ ý không dùng cách viết theo chuẩn ngữ pháp được đào tạo trường quy. Trần Lê Khánh lặng lẽ trải tâm tình bằng tiếng Việt, chữ quốc ngữ thuần chủng, bỏ qua tất cả mọi định chế ngữ pháp, dường như đã tương đối ổn định trong sáng tạo văn học. Ở đây tình yêu trai gái không còn dáng e ấp, thủ thỉ tâm tình, gửi lời hẹn ước thủy chung – đôi khi là phù phiếm giả tạo, hay quá thiên lệch về hình thức như hoàn cảnh chính trị xã hội trước 1975. Khi hóa thân vào tâm trạng nhân vật cô gái trẻ lần đầu trải nghiệm tình yêu là xác thực bằng cả trí tuệ và sinh lực.

Vượt gộp lên tất cả là cách viết mới trong thơ thiền hiện đại.

em đưa giọt lệ lên cao

một lần cho hết ừ ào trăm năm

việc gì mà phải ăn năn

dòng đời trôi nổi đâu hằn dấu lưu

(Xứ 11)

Chắc không phải vô tình mà thơ thiền Trần Lê Khánh đã “vượt khung” khỏi lễ giáo phong kiến. Hướng tới thiện cảm với phái đẹp phương Đông, giải tỏa nỗi bức xúc bị quan niệm trọng nam khinh nữ ràng buộc, nhà thơ dùng thủ thuật thơ thiền, bày tỏ đồng cảm:

 bàn tay vuốt nhẹ cơn đau

cho xuôi tiếng nấc nghẹn ngào vu vơ

Đặc biệt tài hoa hơn là những nhịp thơ cặp đôi – ấy là người đọc tự hiểu, tự phân ngắt ý chuyển câu chứ tác giả không thách thức, không giải thích, không miêu tả miên man. Vẫn trọn vẹn theo cách gieo vần của thơ lục bát trong ca dao người Việt, thơ thiền hiện đại của Trần Lê Khánh đã nắm bắt được nhu cầu phản ánh hiện thực lãng mạn mà không la đà thô thiển:

thương người như thể thương thân

trả thay kiếp nữa vài lần đơn côi

mây cuộn mây càng lẻ loi

em về con phố hẹp hòi thêm sâu

                                                                        (Xứ 8)

Kiểu viết này đã từng có mầm mống trong thơ dịch tiếng nước ngoài ra tiếng Việt, nhất là những tác phẩm thơ tự do, thơ bậc thang từ nửa sau thế kỷ XX; điển hình nhất qua dịch phẩm tiếng Việt Thi hào Nadim Himet (1962), Thơ Pablô Nêruđa (1974), Tuyển tập thơ Maiacpxki (1979) Lá cỏ(1981) của Whitman v.v. Các dịch giả tiên phong ấy phải bám sát cấu tứ, nội hàm âm nghĩa bản gốc và vừa tìm vừa sáng tạo từ mới trong tiếng Việt, để chuyển tải nội dung tác phẩm đến bạn đọc Việt Nam. Những thành tựu cố gắng thử nghiệm ban đầu đó đã gây được ấn tượng văn chương trong các thể loại thơ, nhưng rõ ràng là chưa trưởng thành phong cách ổn định trên bình diện từng tác giả, dịch giả và dịch phẩm. Phổ biến chung cho hình thức thơ dịch trong các thi phẩm này là các dịch giả kéo dài câu viết hoa từ đầu câu, xuống bậc thang cho hết tiểu ý và chấm câu.  

Đến hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI, thơ Việt Nam đã xuất hiện nhiều bài thơ, những tập thơ với nội dung đổi mới hoàn toàn từ tư duy xây dựng biểu tượng nghệ thuật, đến hình thức ngôn từ thể hiện. Cách phản ánh hiện thực cuộc sống bóc trần được những nét bản chất của sự kiện và tâm lý con người trong thời @. Thơ Trần Lê Khánh bứt phá nhưng cũng cho thấy sự khiêm nhường với tính cách thiền hiện đại, trong biến thể mới của thơ lục bát và thơ haikư. Song, ngay việc vận dụng hai hình thức thơ này, tác giả dường như vẫn không ngừng trăn trở, chất vấn với chính mình. Yên lặng suy ngẫm, chiêm nghiệm hiện thực cuộc sống. Và phải đồng thuận ngay với nhau rằng, cuộc sống không thể phân định rạch ròi các mối quan hệ hữu cơ, gắn bó giữa từng cá nhân con người với con người, con người ràng buộc với kinh tế – văn hóa xã hội. Vì thế:

mây cuộn nhau lại mịt mù

còn người cuộn lại hoang vu một mình

nhất bên trọng nhất bên khinh

chiều thu chiếc lá nặng tình sao bay

con hẻm nhỏ núp cả ngày

đớp chiều một phát dứt ngay bóng người

thôi đừng đảo nhẹ con ngươi

một lòng một dạ nụ cười sẽ cân

Trọn vẹn cả bài Xứ 4 có thể xem như một bức tranh chân thực của tình yêu cuộc sống. Cuộc đời mỗi con người ai ai cũng phải chấp nhận quy luật sinh, lão, bệnh, tử. Chỉ có con người mới xác định được ý nghĩa nhân văn của cuộc đời mình. Đa số mọi người hiểu được lẽ sống ấy, khốn nỗi có kẻ muốn thay bằnglối sống gấp gáp, rình rập cơ hội tiến thân, đã xuất hiện từ buổi giao thời giữa hai thế kỷ XX và XXI ở Việt Nam. Thậm chí tư tưởng nông nổi ấy đã gieo rắc một niềm “hy vọng hão huyền”. Tất nhiên, thời gian và nhịp đập va chạm, ngọt ngào và cay đắng sẽ ngấm ngay và bắt buộc từng cá thể người trong cuộc phải chịu đựng.

trò vui rủng rỉnh gì đâu

long lanh ngọn cỏ nặng đầu giọt sương

  

Có thể cung cấp cho người đọc suy ngẫm về tình yêu, về công chuyện bươn chải làm ăn đều có lý. Cứ tự nhiên sử dụng giọng điệu ngôn ngữ chải chuốt vuốt nhẹ như thế, bài Xứ 14, Trần Lê Khánh viết:

em ngồi xởi lởi vầng trăng

đêm buồn vừa vặn ở đằng mênh mông

như đem mây nhốt vào lồng

em giam phù phiếm vào trong một ngày

Sự “xởi lởi vầng trăng”, sự “phù phiếm” theo đòi không chịu suy nghĩ tầm sâu để thấu hiểu bản chất cuộc sống lao động, đa phần là nguyên nhân gây tai họa khôn lường. Tai họa khôn lường có thể như “làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền” như Nguyễn Du viết trong truyện Kiều. Ngay cả khi đã đạt được những thành tựu, bất cứ là ai, ở vị trí nào cũng đều phải có cái nhìn khoa học, đúng mực, vừa độ…

   Trong bài thơ thiền trên, tác giả cũng chỉ rõ:

anh làm sản phẩm đầu tay

một giọt nước mắt tràn đầy ngu si

Rõ ràng thơ thiền định của Trần Lê Khánh thể hiện trách nhiệm của người nghệ sĩ khi đã trải nghiệm cuộc sống mưu sinh; và nhất là khi điều kiện kinh tế – xã hội, môi trường sau thời “đổi mới tư duy và mở cửa” đã cho phép. Với tầm nhìn khái quát cao, tài năng vận dụng từ tiếng Việt điêu luyện nhất định sáng tạo thơ thiền Trần Lê Khánh sẽ còn đóng góp nhiều hơn nữa sau những thành tựu mở đầu. Một đơn vị tác phẩm Xứ 18 đủ tư cách tạm kết cho vài ghi nhận trên đây:

tôi gieo chiếc bóng của tôi

lên buổi chiều cạn đang bồi phù du

cho màu mỡ đám sương mù

ôm tia nắng tắt âm u đứng chờ

cho phố sáng rực đêm mơ

đang còn bồi đắp đôi bờ thời gian

mai sau người có lỡ làng

gieo gì gặt nấy nhớ mang đủ dùng.

PGS.TS TRƯƠNG SỸ HÙNG

(Viện nghiên cứu Đông Nam Á)

REVIEW

The connection between traditional Vietnamese Zen and modern Zen in Tran Le Khanh’s poetry

ASSOC. PROF. TRUONG SY HUNG, PHD

(Institute for Southeast Asian Studies)

When each individual word, compound phrase, and short phrase—i.e., short sentence—links create new/different effects based on each setting involved in producing a literary work, each type of human language has hidden multi-meaningful meanings. The same is true of the modern Zen poetry of Tran Le Khanh. We shall be able to more clearly understand the poet’s commitment to the idea of Zen poetry via each piece, nevertheless. The transition from Vietnamese Zen to Tran Le Khanh’s modern Zen poetry requires acknowledging and evaluating through focused research. This essay represents the author’s own viewpoint.

Different perspective on Zen in Tran Le Khanh’s poetry

Although Tran Le Khanh’s poetry is various, it always stems from the same source of inspiration: Zen. It’s difficult to define Zen (meditation). Numerous records claim that Zen existed before Buddha Shakyamuni was born. According to it, Zen has been practiced for more than 2500 years. Other religions outside Buddhism also practice meditation. Buddhist great gurus claim that practicing Zen can improve our ability to concentrate. Meditation aids us in entering universal consciousness when practicing yoga. According to scientific research, meditation improves our ability to focus and regulate our thoughts.

Zen can be found in poetry as much as in the exercises of the great masters. In Tran Nhan Tong’s and following monks’ poetry, Zen is a recurring theme in Vietnam. Haiku lines on Zen can be found in Japan. These days, Thich Nhat Hanh’s poetry contains several references to Zen.

In Tran Le Khanh’s poetry, Zen takes a new form; it is no longer just a matter of remaining still and motionless, but also of shifting back and forth between emptiness, reality, the past, and the future. As long as Tran Le Khanh’s mind is clear and he can perceive what he believes to be still, he does not allow his mind to be dazzled and instead examines numerous things and happenings.

Tran Le Khanh sees:

immense river

into which she pours all of night’s darkness

nothing left at the bottom of the bottle

but stars

(old bottle of sky)

He imagines her emptying the night into the river while meditating and using his vivid imagination. A seemingly bizarre deed occurs naturally in the poet’s eyes, similar to someone dumping sand into a river. Tran Le Khanh is excellent at highlighting the absurdity of life. As the night was imprisoned in the jar, the absurdity persisted. When the night was finished, the stars remained fixed and did not drop into the river. From the perspectives of a dreamer and a Zen scholar, Tran Le Khanh’s lyrical concept can be appreciated. He can observe the harmony of the night, the river, the people, and the stars because his mind is so at peace. Given that human consciousness is constantly there, why not float along the river. Many religions hold that although the soul can be lost, the body cannot.

Zen does not revolve around the staleness of things in Tran Le Khanh’s poetry. People are directed to the scenery, to the things that are already there, of what it is, through meditation of earlier views. No matter how much the observer looks, he never learns anything new. Zen in Tran Le Khanh’s poetry is defined as “viewing things,” or continually shifting sceneries. This describes Tran Le Khanh’s fresh, modern aesthetic view. A different perspective. It is meditation at work, in every step, in a flying leaf… Tran Le Khanh thus perceives:

                                               

a flying yellow leaf

can make an autumn only for itself

and doesn’t know that in the next life

it will become a flock of swallows

(what life is better)

The flying golden leaf has evolved from its original state. It is present in the future tense as well as the current tense. According to Tran Le Khanh, this is a form of rebirth and reincarnation. The leaf has significant significance in transforming the previous life into a beautiful autumn so that the subsequent life becomes a swallow of spring. The poet makes an unexpected and intriguing connection.

Tran Le Khanh sees things that not everyone can see because he observes in a new way of Zen.

she sits to reconstruct the blue sky

a cloud falls only to shatter the river’s bottom

(the convervation law)

The sky can represent youth and beauty. It will not last indefinitely. Although it is believed that no one can disturb the river bed, it also cannot last indefinitely. Tran Le Khanh has drawn the core of meditation from a variety of religions, not just Buddhism, although his writing nevertheless consistently bears the Buddha’s imprint.

By comparing Tran Le Khanh’s way of thinking to that of Zen Master Thich Nhat Hanh, we can observe that both have an emphasis on the present moment and the here and now. From there, he made a number of observations. Since then, his poetry has transcended joy and suffering to portray the human being in a natural way.

Tran Le Khanh wrote:

time after time

the river is so low

fish bite

at a dry cloud

(end of the world)

These verses resemble premonitions. In this passage, we see him again having predictions for the future, like Nguyen Binh Khiem, for example. He see that one day, this world, due to some change, the river dries up. And in the eyes of the poet, the clouds that are silhouetted cannot be far from the fish, so the fish can easily grab the cloud. And then, when the river dries up, and the clouds cannot bathe, they wither away, like flowers in a drought. Like a person who cannot find the light at the end of the tunnel, gets stuck in a quagmire.

Tran Le Khanh continued to envision the latter evolution of the bird and the yellow leaf from that stream of thought:

a bird sits on a yellow leaf

where in the next life both incarnate into humans

become a tired couple

searching for their old tree

waiting for each other

(coming back)

When we look at Tran Le Khanh, we can see that poetry is more than just a way to describe or think about life. However, it includes the idea of the universe and of spirituality. He wants to see all of things’ subsequent lives, not just the color of trees, leaves, or people, thus he does not want to stop comprehending at those things. To write that way, Tran Le Khanh must have a highly audacious mentality.

It seems that he completes a poem each time, as if he had just finished a Zen koan. It is like going to get water from the stream. Just finished cooking rice. Just finished meticulously brewing a teapot. Just finished reading an article. It may be tiring, but after that, the mind is calm, so light that it is like a floating cloud.

From that perspective, Tran Le Khanh shows his selfless heart.

men are leaves

couple after couple fall away from the Eden tree

searching endlessly for one another

the holy garden is full of forbidden fruit

why God is furious

(otherwise desert)

Tran Le Khanh observed individuals seeking a spiritual path but could not find it.

the woodsman uses his ax

to cleave his shadow at every dusk

8,400 times

tied up bundles of his shadow

some heavy but

where does he carry them

(cleaving wood)

Tran Le Khanh captured the photograph of the old woodcutter, but instead of cutting wood, he chopped his shadow. Hence, self-reflection. However, the reflection has passed by eighty four thousand times but is still not visible. It is possible that Tran Le Khanh was inspired to write this poem by the eighty-four thousand Buddhist dharmas. In other words, there are numerous, but more than eighty thousand ways for people to achieve emancipation. However, not everyone succeeds in getting there, as evidenced by the old woodcutter in Tran Le Khanh’s poem cleaving wood.

Tran Le Khanh does not just keep his attention on the faraway, nothingness, and illusion; he also frequently thinks about the hometown, which is what people usually strive for.

rivers are calm

waiting for the long rain

to wash away

all waves of nostalgia

(my hometown)

Tran Le Khanh’s hometown is very strange. Not a bunch of sweet star fruit, a village bamboo rampart, is a nostalgia for the silhouette of the old lover. Tran Le Khanh’s meditative character, which is quiet of observation, is still discernible here. He observed both people and the waves of exile. Because of the pollutants that the waves that are drifting out and spreading far have brought, the river will always lie in that position and let the rain wash it clean. So, it washed away by the rain. That marks the end of grief and suffering, just as humans are purified of all dirt. Maybe we have to endure and face many things when we travel, work hard to make a life. However, such things were naturally forgotten when we went back to our hometown.

Tran Le Khanh’s writing is also highly distinct when it comes to writing about the moon, which is another aspect of witnessing space. We commonly discuss Han Mac Tu when we talk about the moon. He was the one who dared to sell the moon. Although the moon in Han Mac Tu’s poetry is likewise elegant, it actually does not differ from that of earlier or more contemporary writers. Different facets of the moon are developed in Tran Le Khanh’s poetry. Very different. Different from poets of the past and present.

clouds

ripen for a thousand years

ferment the moon

so bitterness remains

(taste of night)

Tran Le Khanh compares the moon to a fruit that has fallen off its branch. Like many green fruits that we incubate in rice and straw, the moon is incubated by clouds when it is yellow. Tran Le Khanh is not only skilled at incubating the moon, but he also understands its bitter flavor. The poem demonstrates Tran Le Khanh’s extraordinary imagination and conveys his mental condition as though he had left the Sahā world.

In Tran Le Khanh’s poetry, in addition to nothingness, things, and scenes, he also writes about God. God in Tran Le Khanh’s eyes is the same as God in Tagore poetry, which is the incarnation of man. God and man are one, the same, there is no difference.

the most beautiful flower on earth

is the flower that no one has ever seen

it is said that

god gifted it to his secret lover

(human’s heart)

The poem human’s heart by Tran Le Khanh has a comical element. But not only that, the poem shows the identification of man with God – supposedly the creator of all things. God is no different, no stranger to man. God loves and hates just as much as we do. Someone said, no matter what we are, we are all molded by the hands of God.

Tran Le Khanh has many such poems. He must have a calm mind, a free spirit, and a great association to lead readers to new ideas and images. That is the difference of Tran Le Khanh, a step forward in Zen poetry that not all poets can do.

Tran Le Khanh’s Zen poetry with love of life

The poetry of Tran Le Khanh exhibits a distinctly lyrical tone: one day the wind blows/ along the leaf’s cold spine/ the ground appears as a forssil/ of the worn road she travelled/ a million years before. Differentiated by the use of intonation, the method of psychological expression, and the strategy for getting the reader to understand time flow and feel life’s constant pulse of vitality and creativity. A contemporary literary work that cannot be isolated from philosophy yet calls for the author to utilize specific terms to reflect the interactions between modern psychology and human emotions. Interaction relationship between people and people in the same language community is the measure, the “strictest barrier,” how to evaluate literary and artistic achievements.

Some writers pay close attention to the quiet and self-illumination of the symbol of life in the old aesthetic philosophy of Eastern writers. By pointing out the unsatisfying flaws, the author immediately exposes the symbol of life. While comprehension is still developing, the discoveries that are “slowly followed” will eventually shape the character, and made-up events serve to reflect reality. Each author’s unique use of imaginative language contributes to the creation of characters and distinct situations. These are the acknowledged literary and artistic creative achievements in a work of art if it leaves a lasting impact and the psychological development is not irrational, not excessively collected, and links parts of a healthy reality on its own while perceiving societal morality. The poetry of Tran Le Khanh then takes these shapes from the bottom up and expresses them in a very modern way:

when she is gone

the silky sand

sheds its scab

at the place where the earth is round

(we will meet again)

Tran Le Khanh used to gather ingredients, select spices, passionately ignite the fire of the soul, volunteer to be an artistic chef, and host soul parties that drew readers from near and far. He named his spiritual children: The Day is like a Leaf, The Dance of Luc bat, The River Never Hurries, The Place of Nowhere (2020). It seems that the author often finds a place to stand or sit quietly in a certain corner to observe and describe the reality deeply immersed in human spiritual life. Many times he was bored and engrossed, having experienced hard work to find an artistic perspective. Not actually the Buddha alone, although he once acknowledged as such in a press conference: “The image of the Buddha is the most beautiful image that I have ever read, seen, or heard about. That contemplation is what leads to further contemplation, and from there I start down the path of meditation. It is a quiet thing. The absolute silence allows me to shed my layers of prejudice, hypocrisy, and knowing in order to contemplate beauty…”

Even though the author of these lines has confirmed “the absolute silence allows me to shed my layers of bias, hypocrisy” it is still an understatement, and some readers still have a justification for assuming that there is a “layer of hypocrisy” in everyone’s spiritual world in modern society when cars, gliders, and ships lift people off their feet, when computer keyboards, smartphones, and intelligent reading support the development of the language of thought. The “layers of prejudice and hypocrisy” coexist; it governs every interaction. What should the author do in that situation? Tran Le Khanh has adapted to the Zen poetry genre, expressing his own vision in a more contemporary and profound way.

Tran Le Khanh’s Zen poetry has reflected many profound features of the interactions in contemporary human society, in all social and environmental fields. Each person’s behavior, which expresses their attitudes, cognitive abilities, shared emotions, and reactions of agreement or disagreement, is hidden in those interactions. Poetic aesthetic sensibility has the potential to seep into the souls of artists and reflect in their works. Each unit of work is linked together according to the author’s intonation style that depicts the value of the work and the author’s portrait. In the poem The Place of Nowhere 5, Tran Le Khanh wrote:

she feels pity for a yellow leaf

for its aching body during the wild dusk

hey town’s corner

the love affair is like the case 

of two gusts of winds who imagine each other

her hands fondle the pain

the sniffle soothed

she sits to reconstruct childhood

a small moon which liked to wait for the day before

the small door at the side of the house

ajar in constrast to her wide open heart

hide inside hide inside

when the cloud appears in a moment the dusk is finished

Thus, the author has captured the dark side of the story and still wants he poetic character to keep it private and direct his awareness and remind the inherent delicate lifestyle of the Vietnamese people. Regarding the form of verbal art performance, the author intentionally did not use the grammar standard that was taught in the school. Tran Le Khanh quietly spread his feelings in Vietnamese, the pure national language script, ignoring all grammatical institutions, seems to have been relatively stable in literary creation. Here, a woman and a man’s love is no longer shy, timid, delivering a pledge of loyalty to her heart; instead, it is sometimes frivolous, false, or too prejudiced in form, much like the socio-political climate prior to 1975. When taking on the persona of a young girl who is experiencing love for the first time, the transformation is genuine and full of life.

Goes beyond all is a new way of writing in modern Zen poetry.

she lifts her tear higher

once for finishing the ordinariess of the hundred years

no need for repentence

the river of life leaves no trace of the current

(The Place of Nowhere 11)

The fact that Tran Le Khanh’s Zen poetry “breaking” from the feudal customs is not by accident. The poet employs Zen poetry’s device to convey sympathy for Oriental women and to remove the burden of being constrained by the idea of masculine scorn for women:

 her hands fondle the pain

the sniffle soothed

Especially talented are the couplets – that is, the reader understands and self-interprets the meaning of the sentence, but the author does not challenge, explain, or lengthy describe. Still in its entirety in the rhyme of the six-eight verse in Vietnamese folklore, Tran Le Khanh’s modern Zen poetry captures the need to reflect romantic reality without being crude:

love other people like she loves herself

she pays her lonliness for several more lives

curling itself the cloud feels more lonlier

when she returns the selfish alley is deeper

(the Place of Nowhere 8)

This style of writing has been conceived in poetry translated from foreign languages ​​into Vietnamese, especially works of free verse and staircase poem from the second half of the twentieth century; most typical through Vietnamese translations of Nazim Hikmet the Poet (1962), Poetry of Pablo Neruda (1974), Anthology of Mayakovsky Poems (1979), Leaves of Grass (1981) by Whitman, etc. In order to communicate the meaning of the text to Vietnamese readers, the pioneering translators had to maintain the original structure, phonetic substance, and both identify and invent new terms in Vietnamese. These early attempts at experimentation have left a literary mark in the poetry genres, but they are obviously inexperienced in a stable style at the level of the specific author, translator, and translation. The translators prolong the capital sentence from the start of the phrase all the way down the ladder to the conclusion of the sub-point and punctuation in these poems, which is a common practice in translated poetry.

In the first two decades of the twenty-first century, Vietnamese poetry has produced a large number of poems and poetry collections with entirely new themes, ranging from contemplating the creation of aesthetic symbols to verbal expression. The way of reflecting the reality of life reveals the essence of events and human psychology in the @ era. In innovative renditions of six-eight poetry and haiku, Tran Le Khanh’s poetry pushes through but also demonstrates humility with a modern meditative quality. However, even using these two poetic forms, the author seems to be constantly pondering and questioning himself. He quietly contemplating the realities of life in silence. And it must be acknowledged right away because life cannot distinguish between the organic and intimate bonds that bind each individual human being to other humans as well as those that bind them to the economy, culture, and society. Therefore:

hazily the clouds curl themselves

but the man curls his heart deserted and alone

one side she prefers one side not

how can the pure-hearted leaf fly on the autumn dusk

the small alley lurks all day

to bite the dusk a man’s shadow cut

please don’t move the pupil around

with a straight heart the smile will balance

The entire poem The Place of Now 4 can be viewed as a true representation of love in life. Life must accommodate the universal laws of birth, old age, illness, and death. The human meaning of a man’s existence is something only he can decide. Most people are aware of this reason for existing, but sadly, some individuals seek to replace it with a fast-paced way of life that involves pursuing opportunities for progress, which has become more prevalent in Vietnam since the turn of the twenty-first into the twenty-first century. Even that tenuous notion has planted a “false hope.” Of fact, as time and rhythm clash, sweet and bitter will seep in and make everyone insider suffer individually.

fun is not abundant

the beautiful grass traded for the heavy heads of a dew

can give readers insights into how to think rationally about work, love, and business. Tran Le Khanh continues to naturally use such a gentle tone of language in The Place of Nowhere 14:

she sits to warmly whirl up the moon

the sad night barely fits at the side of the nothing

like putting a cloud in the cage

she confiscates the mysteries in a day

Unpredictable tragedies are typically caused by the “warmly whirl up the moon”, or “vanity,” which necessitates not thinking deeply enough to comprehend the nature of working life. Unforeseen calamities can be like “doing harm just for the sake of money” as Nguyen Du wrote in the Tale of Kieu. Anyone, in whatever position, must have a scientific, logical, and balanced viewpoint—even after earning successes.

In the above Zen poem, the author also points out:

he offers his first creation for sale

her foolish tear that overflows

It is evident from Tran Le Khanh’s Zen poetry that the artist bears responsibility when engaging in daily life, particularly when socioeconomic and environmental circumstances permit following the “renovation of thinking and opening up” stage. After the initial successes, Tran Le Khanh will continue to make contributions thanks to his high overview and aptitude for skilfully combining Vietnamese words to create Zen poetry. Just The Place of Nowhere 18 is eligible to provide a temporary conclusion for the article above:

I plant my own shadow

into the soil of ever changing dusk

for enriching the mist

by embracing the fading sunlight

for the town to become brighter in the dreamy night

that deposits time onto two shores

if she fails half-way tomorrow

bring just enough of what she reaps what she sows.

E-mail
Password
Confirm Password